Hiệu quả áp dụng các hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ tại Trường Đại Học Phú Yên

HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC HOẠT ĐỘNG ĐA TRÍ TUỆ PHÁT TRIỂN

KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN

 

 Th.S Châu Văn Đôn, Th.S Hồng Ái Nga

(Trường Đại học Phú Yên)

 

 1. Giới thiệu

1.1. Đặt vấn đề

Ngày nay tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế. Chức năng chính của hoạt động sử dụng ngôn ngữ là đạt được mục đích giao tiếp. Tuy nhiên, đối với đa số người Việt Nam học tiếng Anh, kỹ năng giao tiếp bằng lời nói được xem là kỹ năng khó phát triển nhất.

Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong Chương trình dạy nói tiếng Anh. Do vậy, đóng góp chính của nghiên cứu này là thúc đẩy phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên chuyên ngữ của trường Đại học Phú Yên thông qua nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào học phần luyện nói tiếng Anh.

Giả thuyết nghiên cứu: có sự khác biệt đáng kể trong thống kê điểm trung bình kết quả học tập của nhóm thực nghiệm về kỹ năng nói tiếng Anh. Để kiểm định giả thuyết, nhóm nghiên cứu đã chọn ngẫu nhiên hai nhóm gồm 68 sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất (Khóa 2014-2018), thuộc Khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Phú Yên (ĐHPY) tham gia quy trình thực nghiệm, cũng như thực hiện các bài kiểm tra trước và sau tác động để khẳng định hiệu quả thực hiện Chương trình dạy nói trên theo nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ.

Nghiên cứu còn đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất. Ngoài ra, các đối tượng tham gia nghiên cứu này là những sinh viên chuyên ngành sư phạm tiếng Anh, được đào tạo để trở thành các giáo viên tiếng Anh ở các bậc học phổ thông sau khi tốt nghiệp, trong đó, yêu cầu năng lực giao tiếp, sử dụng tiếng Anh phải đạt Bậc 4 trở lên trong Khung tham chiếu trình độ ngoại ngữ chung Châu Âu (CEFR) hoặc tương đương với Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam theo Đề án 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thuyết đa trí tuệ trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh với mong muốn mang lại nhiều ứng dụng hữu ích cho cả giáo viên và các nhà nghiên cứu.   

Trọng tâm của nghiên cứu nhằm phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên vì kỹ năng nói luôn đi trước và đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập; Ngoài ra, chúng tôi hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần hưởng ứng tích cực chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, với phương châm dạy học ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp, lấy người học làm trung tâm. 

1.3. Lược sử nghiên cứu

Theo (Salem, 2013), người học ngôn ngữ thường bị hạn chế phát triển kỹ năng nói tiếng Anh vì họ thiếu môi trường để rèn luyện và thực hành kỹ năng nói. Do vậy, áp dụng nhiều phương pháp dạy học, nhiều hoạt động dạy học linh hoạt, cũng như huy động nhiều phong cách học tập, năng lực sở trường, và trí tuệ đa dạng có thể giúp người học phát triển tốt kỹ năng nói tiếng Anh.

Sayed (2008) lại cho rằng có nhiều trở ngại mà cả giáo viên và sinh viên thường gặp trong việc dạy và học kỹ năng nói tiếng Anh trong lớp. Trước hết, sinh viên thấy khó nói thứ tiếng nước ngoài mà họ đang học. Thứ hai, các điều kiện giảng dạy có thể cản trở sự phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên. Thứ ba, phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng gây trở ngại cho khả năng nói của sinh viên. Thứ tư, sinh viên có thái độ thụ động với tiếng Anh, một số em thường miễn cưỡng tham gia các hoạt động nói trên lớp.      

Christison, M.A. (1996) đề xuất rằng trong một lớp học ngoại ngữ, hồ sơ trí tuệ của sinh viên rất đa dạng. Các kiểu trí tuệ khác nhau của mỗi sinh viên phối hợp với nhau theo những mô hình phức tạp. Bởi trí tuệ không tồn tại ở các hình thức đơn lẻ, độc lập, nên các hoạt động học ngoại ngữ chỉ có thể thành công nếu khuyến khích việc sử dụng tích cực các hoạt động kết hợp nhiều kiểu trí tuệ cùng lúc.

Năm 2013, Salem, A.M.S đã áp dụng thuyết đa trí tuệ để khảo nghiệm ảnh hưởng của việc giảng dạy áp dụng Thuyết Đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho một nhóm sinh viên sư phạm sắp tốt nghiệp. Kết quả của nghiên cứu của ông đã chứng minh và khẳng định hiệu quả của việc giảng dạy áp dụng các hoạt động đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho các đối tượng sinh viên nêu trên.

1.3.1. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu của chúng tôi được giới hạn trong phạm vi sau:

- Đối thượng tham gia nghiên cứu: 68 sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất (Khóa 2014-1018), thuộc khoa ngoại ngữ, trường ĐHPY. Các sinh viên này được chọn vì trong chương trình đào tạo, môn Nói tiếng Anh B1 là học phần bắt buộc.

- Các nhóm kỹ năng nói được thiết kế phát triển trong học phần này là: Hỏi và trả lời câu hỏi phỏng vấn cá nhân; kiến tạo các bài hội thoại dựa vào tình huống cho sẵn; mô tả tranh; đặt câu hỏi và trả lời về chủ đề cho sẵn; trình bày quan điểm cá nhân  

- Các hoạt động luyện nói trên lớp được thiết kế tích hợp với 8 kiểu trí tuệ được sinh viên yêu thích: trí tuệ sử dụng ngôn ngữ - lời nói; trí tuệ thị giác - không gian; trí tuệ logic - toán học; trí tuệ vận động cơ thể; trí tuệ giao tiếp hướng ngoại; trí tuệ giao tiếp hướng nội; trí tuệ âm nhạc và trí tuệ thiên nhiên - môi trường. 

1.3.2. Định nghĩa các thuật ngữ: Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các định nghĩa sau:

1. Các hoạt động đa trí tuệ:

Gardner (1983) xem các các hoạt động đa trí tuệ trong lớp như một công cụ để truyền tải nội dung kiến thức của từng bộ môn cho sinh viên bằng cách huy động các kiểu trí tuệ, năng lực của mỗi sinh viên. Sinh viên tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau xuất phát từ nhiều kiểu trí tuệ nổi trội của bản thân.

2. Kỹ năng nói:

Fakhar Naveed (2015) định nghĩa kỹ năng nói là quá trình tương tác tạo nên ý nghĩa giao tiếp. Quy trình này liên quan đến việc phát, nhận, và xử lý thông tin.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem kỹ năng nói là “quá trình tương tác, giao tiếp bằng tiếng Anh, bao gồm 5 nhóm nhỏ kỹ năng: hỏi và trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân, kiến tạo các bài đối thoại dựa vào tình huống có sẵn, trình bày quan điểm cá nhân, mô tả tranh, đặt câu hỏi và trả lời về một chủ điểm cho sẵn”.

3. Sinh viên chuyên ngữ tiếng Anh

Sinh viên chuyên ngữ tiếng Anh là các sinh viên năm thứ nhất (Khóa 2014-2018), thuộc Khoa Ngoại ngữ, trường ĐHPY. Các sinh viên này được đào tạo để trở thành giáo viên tiếng Anh sau khi tốt nghiệp.

1.4. Giả thuyết nghiên cứu      

Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp giả thử nghiệm (Quasi-experimental Design) để kiểm tra lại giả thuyết nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu này phù hợp với bản chất nội dung nghiên cứu của chúng tôi. Cụ thể, tham gia nghiên cứu gồm 2 nhóm, nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm. Nhóm thực nghiệm tham gia làm các bài kiểm tra trước và sau tác động. Giả thuyết để kiểm chứng: Có sự khác biệt đáng kể giữa các giá trị trung bình của nhóm thực nghiệm về kết quả thực hiện các bài kiểm tra trước và sau tác động liên quan đến kiểm tra đánh giá các nhóm kỹ năng nói tiếng Anh trong chương trình đào tạo. 

Sự can thiệp của các hoạt động đa trí tuệ trong nghiên cứu này thể hiện ở cả 3 khâu then chốt của quy trình dạy học: thực hiện các hoạt động đa trí tuệ, thiết kế và thực hiện các tài liệu dạy học đa trí tuệ, và kiểm tra đánh giá kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên theo hướng đa trí tuệ.

Khác với các nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu của chúng tôi áp dụng các hoạt động dạy học cùng một lúc thu hút, và phát triển nhiều kiểu trí tuệ của sinh viên, chứ không phải mỗi hoạt động dạy học chỉ phát triển một kiểu trí tuệ nào đó ở sinh viên.

1.5. Câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu này chủ yếu trả lời câu hỏi: Tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên là gì?

Từ câu hỏi trên, chúng tôi đề xuất một số câu hỏi:

a. Kỹ năng nói tiếng Anh cần thiết cho sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất bao gồm những nhóm nhỏ kỹ năng nói nào?

b. Thực trạng đánh giá kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên là gì?

c. Hồ sơ đa trí tuệ của sinh viên chuyên ngữ tiếng Anh năm thứ nhất là gì?

d. Các nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất là gì?

e. Hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ tiếng Anh năm thứ nhất là gì?

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Thiết kế thực nghiệm:

Nghiên cứu này được thực hiện với thiết kế thực nghiệm gồm một quy trình can thiệp xảy ra trước và sau tác động, chỉ áp dụng đối với nhóm thực nghiệm. Chúng tôi chọn thiết kế thực nghiệm này vì mục đích nghiên cứu của chúng tôi là phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho một nhóm sinh viên (nhóm thực nghiệm). Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng một chương trình dạy nói với sự tích hợp của các hoạt động đa trí tuệ, và 3 bài kiểm tra trước, trong và sau tác động để đo lường và kiểm chứng tính hiệu quả của chương trình dạy nói tiếng Anh tích hợp các hoạt động đa trí tuệ.

2.2. Đối tượng tham gia nghiên cứu

Đối tượng tham gia nghiên cứu này là các sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất (Khóa 2014-2018), thuộc Khoa Ngoại ngữ trường ĐHPY. Có 68 sinh viên được chọn và tình nguyện tham gia vào nghiên cứu.

2.2.1. Nhóm thực nghiệm: Gồm 34 sinh viên. Đây là nhóm được giảng dạy nhằm phát triển kỹ năng nói tiếng Anh thông qua học phần nói tiếng Anh 45 tiết (tương đương trình độ B1), được thiết kế và biên soạn theo nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ.

2.2.2. Qui mô, năng lực và độ chính xác của các đối tượng nghiên cứu: Các đối tượng nghiên cứu đồng nhất về trình độ tiếng Anh đầu vào, đặc biệt là kỹ năng nói tiếng Anh. Điều này được phản ánh từ điểm kiểm tra nói lần 1 thực hiện trước khi bắt đầu chương trình đào tạo thực nghiệm.

2.2.3. Tính hiệu lực của các bài kiểm tra: Sau khi điều chỉnh nội dung và yêu cầu của các bài kiểm tra theo đề nghị của Tổ Chuyên ngữ, các bài kiểm tra được thực hiện nhằm mục đích:

-       Đảm bảo tính rõ ràng của các đề mục và hướng dẫn

-       Xác lập khung thời gian cần thiết cho từng mục trong các bài kiểm tra

-       Thiết lập độ tin cậy của các bài kiểm tra

2.2.4. Các bước tiến hành thực nghiệm:

- Bảng kiểm danh mục các nhóm nhỏ kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên:

Sau khi xem xét các chương trình giảng dạy bộ môn nói tiếng Anh do Khoa Ngoại ngữ trường ĐHPY quản lý, và nghiên cứu các tài liệu giảng dạy kỹ năng nói, nhóm nghiên cứu chọn lọc, thiết kế và đề xuất một danh mục gồm 5 nhóm các kỹ năng nói tiếng Anh cần phát triển. Danh mục này được Tổ bộ môn chuyên ngữ thẩm định và thông qua, nhằm mục đích:

+ Khẳng định các nhóm nhỏ kỹ năng nói tiếng Anh quan trọng nhất mà sinh viên cần phát triển.

+ Điều chỉnh các nội dung, hạng mục phù hợp với yêu cầu chương trình đào tạo.

+ Bổ sung thêm các kỹ năng cần thiết cho chương trình giảng dạy.
 

 

Bảng 1. Bảng kiểm danh mục các nhóm kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất

Kỹ năng nói

Đồng ý

Tỉ lệ phần trăm

1. Hỏi và trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân

10

100%

2. Kiến tạo các bài đối thoại từ các tình huống cho sẵn

8

80%

3. Mô tả tranh

10

100%

4. Kỹ năng thuyết trình

9

90%

5. Đặt câu hỏi và trả lời về chủ đề đã cho

8

80%


 

- Mẫu phiếu khảo sát Hồ sơ trí tuệ:

Mẫu phiếu khảo sát Hồ sơ trí tuệ của tác giả Laura Candler (2011) đề xuất được thực hiện cho nhóm thực nghiệm. Thông qua Phiếu khảo sát này, sinh viên có được một số khái niệm bước đầu về các kiểu trí tuệ và phong cách học tập nổi trội của mình. Đồng thời, nhóm nghiên cứu có thể thiết lập hồ sơ trí tuệ cho nhóm sinh viên này. Thông qua đó, nhóm nghiên cứu thiết kế các hoạt động dạy học trên lớp cũng như bài tập tự học dành cho từng cá nhân sinh viên với các kiểu trí tuệ khác nhau.


Bảng 2. Hồ sơ trí tuệ nổi trội của nhóm thực nghiệm

Kiểu trí tuệ

Tỉ lệ phần trăm

Trung bình

Độ lệch chuẩn

1. Trí tuệ sử dụng ngôn ngữ - lời nói

82.35%

2.47

0.38

2. Trí tuệ logic /toán học

35.29%

1.05

1.37

3. Trí tuệ hướng ngoại

70.59%

2.12

0.62

4. Trí tuệ hướng nội

70.59%

2.12

0.62

5. Trí tuệ vận động cơ thể

44.12%

1.32

1.19

6. Trí tuệ thị giác – không gian

94.12%

2.82

0.13

7. Trí tuệ âm nhạc – giai điệu

23.53%

0.70

1.62

8. Trí tuệ thiên nhiên – môi trường

20.59%

0.67

1.68

 


- Các bài giảng luyện nói tiếng Anh tích hợp các hoạt động đa trí tuệ;

- Bài kiểm tra trước, trong và sau tác động

a. Mục đích của các bài kiểm tra: 03 bài kiểm tra nói tiếng Anh được thực hiện trước, trong và sau tác động để đo lường kết quả học tập của sinh viên qua chương trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ và để giám sát, điều chỉnh diễn các biến xảy ra trong môn học suốt thời gian thực nghiệm.

b. Mô tả các bài kiểm tra: Tổng số bài kiểm tra thực hiện: 03. Mỗi bài kiểm tra đều gồm đủ 5 nhóm kỹ năng nói tiếng Anh cho các đối tượng nghiên cứu:

Phần (1) hỏi và trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân; phần (2) kiến tạo các mẫu hội thoại từ các tình huống cho sẵn; phần (3) mô tả tranh; phần (4) bài thuyết trình nói; phần (5) Hỏi - đáp về chủ đề đã cho.

Đây là những nội dung cơ bản trong chương trình phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất tại trường ĐHPY. Thiết kế các bài kiểm tra dựa trên ý kiến của nhóm giảng viên bộ môn nói cũng như các tài liệu tham khảo.


Bảng 3. Chi tiết các bài kiểm tra nói trước và sau khi thực hiện học phần

Kỹ năng nói

Số mục

Tổng điểm

1. Hỏi và trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân

1

2

2. Kiến tạo mẫu hội thoại dựa trên tình huống cho sẵn

1

2

3. Mô tả tranh

1

2

4. Bài thuyết trình nói

1

2

5. Đặt câu hỏi và trả lời về chủ đề đã cho

1

2

Tổng điểm:

10

 


c. Tính hiệu lực của các bài kiểm tra kỹ năng nói tiếng Anh trước, trong và sau tác động: Các đề kiểm tra trước hết được thông qua ở cấp nhóm giảng viên phụ trách bộ môn Nói Tiếng Anh, sau đó là cấp tổ bộ môn Chuyên ngữ, Khoa Ngoại ngữ, nhằm:

a. Làm rõ các hướng dẫn của đề kiểm tra.

b. Thẩm định tính phù hợp để đánh giá kỹ năng nói cho sinh viên.

c. Thẩm định tính phù hợp của các phần đề kiểm tra đối với trình độ của sinh viên.

d. Thẩm định tính phù hợp của cách tính điểm của đề kiểm tra.

e. Thảo luận và giải quyết các đề xuất hay góp ý của Tổ Chuyên ngữ.

Nhóm giảng viên chuyên môn và Tổ Chuyên ngữ đã thống nhất các đề kiểm tra nhìn chung hợp lý, đáng tin cậy và có thể sử dụng để đánh giá kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên.

3. Kết quả: Kết quả thực hiện chương trình được thống kê, phân tích và xử lý để khảo sát tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên dựa vào năng lực thực hiện các bài kiểm tra kỹ năng nói của các sinh viên tham gia thực nghiệm. 

3.1 Qui trình thống kê: Phần mềm thống kê dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội (SPSS), phiên bản 22.0 được dùng để xử lý kết quả. Phép kiểm chứng T-test dùng để phân tích điểm các bài kiểm tra kỹ năng nói của sinh viên trước, trong và sau tác động.

3.2. Hiệu lực của các giả thuyết nghiên cứu

Để xem xét tính hiệu lực của giả thuyết nghiên cứu, trước hết, nhóm nghiên cứu lập bảng dữ liệu ghi lại 3 cột điểm trước, trong và sau tác động của nhóm thực nghiệm, cũng như 3 cột điểm kiểm tra định kỳ bắt buộc của nhóm đối chứng. Sau đó nhập các bảng dữ liệu này vào Phần mềm thống kê dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội (SPSS), phiên bản 22.0 để lấy các số liệu kết quả thống kê cần thiết. Từ kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu lập bảng thống kê mô tả điểm trung bình và độ lệch chuẩn. Sau đó giá trị kiểm chứng T-test được rút ra để so sánh điểm trung bình, để từ đó xác định hiệu quả của chương trình thực nghiệm. Để đảm bảo kết luận những khác biệt thu được từ thống kê giữa các điểm trung bình là nhờ có sự can thiệp của nội dung nghiên cứu: tích hợp các hoạt động đa trí tuệ để cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên, nhóm nghiên cứu cũng tính toán và phân tích mức độ ảnh hưởng (effect size) từ các điểm số kiểm tra.

3.3. Giả thuyết chính của nghiên cứu: Giả thuyết chính của nghiên cứu: Có sự khác biệt đáng kể trong các biểu thống kê điểm trung bình các cột điểm của các bài kiểm tra trước, trong và sau tác động đối với các nhóm nhỏ kỹ năng nói tiếng Anh thực hiện đối với nhóm thực nghiệm so với kết quả kiểm tra với nhóm đối chứng.

Bảng dưới đây trình bày kết quả phân tích điểm số của các bài kiểm tra kỹ năng nói tiếng Anh trước, trong và sau tác động. Việc so sánh kết quả các bài kiểm tra của sinh viên được thực hiện ở cả 2 nhóm.


Bảng 4. So sánh điểm trung bình các bài kiểm tra nói tiếng Anh trước (1), trong (2) và sau (3) tác động giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

 

 

 

Số sinh viên ở nhóm thực nghiệm (34 sv)

Số sinh viên ở nhóm đối chứng (34 sv)

Giá trị P của phép kiểm chứng t-test

Mức độ ảnh hưởng (effect size)

Điểm trung bình

Độ lệch chuẩn

Điểm trung bình

Độ lệch chuẩn

 

Bài kiểm tra sau tác động (Lần 3)

7.44

0.80

5.65

0.88

0.079e-9

0.73

Bài kiểm tra trong tác động (Lần 2)

6.96

0.51

6.12

0.60

0.000003

0.60

Bài kiểm tra trước tác động (Lần 1)

6.57

0.68

6.19

0.71

0.032

0.26

 


Từ các số liệu trình bày ở bảng 4, chúng ta có thể thấy sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của các bài kiểm tra trước, trong và sau tác động. Chênh lệch điểm trung bình của 2 nhóm ở bài kiểm tra trong tác động (Lần 2) là 0,39 (6,96 – 6,57), thể hiện rằng nhóm thực nghiệm có kết quả tốt hơn nhóm dối chứng. Và một lần nữa, kết quả trên lại được khẳng định ở bài kiểm tra sau tác động (Lần 3), với số liệu cụ thể là 0,48 (7.44 – 6,96). Điều này cho thấy Chương trình dạy nói tiếng Anh tích hợp các hoạt động đa trí tuệ có tính hiệu quả và đem lại nhiều ảnh hưởng tích cực đến quy trình luyện nói tiếng Anh của sinh viên. Do vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng giả thuyết nghiên cứu đã được chấp nhận với bằng chứng: điểm trung bình của các bài kiểm tra nói tiếng Anh sau tác động cao hơn so với điểm trung bình của các bài kiểm tra trong và trước tác động. Kết quả này trùng hợp với các nghiên cứu của Dorgham (2011), Sayed (2005) và Ghazala (2005). Tất cả những nghiên cứu này đều khẳng định tính hiệu quả cao của các hoạt động đa trí tuệ được áp dụng trong các giờ học phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên.

Với giá trị p = 0.000003, nhỏ hơn 0.001 đối với bài kiểm tra trong tác động, chúng ta có thể kết luận chênh lệch điểm số trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là rất có ý nghĩa. Chênh lệch này chứng tỏ kết quả này không có khả năng và xảy ra ngẫu nhiên, mà sự thay đổi điểm số này thực sự có được từ việc áp dụng phương pháp tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình giảng dạy phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của chúng tôi.

Đồng thời, kết quả của bài kiểm tra sau tác động, một lần nữa, khẳng định nhận xét nêu trên. Với giá trị p = 0.079e-9, nhỏ hơn 0.001, chúng ta có thể kết luận chênh lệch điểm số trung bình của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là rất có ý nghĩa. Do đó, chúng ta chấp nhận giả thuyết lựa chọn, nghĩa là phương pháp tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình giảng dạy phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của chúng tôi phát huy hiệu quả tích cực trong cải thiện kết quả học tập của sinh viên.

Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) là thước đo của mức độ ảnh hưởng, và mức độ ảnh hưởng cho chúng ta biết mức độ ảnh hưởng của can thiệp đã được áp dụng. Với công thức tính SMD:


 

Trung bình thực nghiệm – Trung bình đối chứng

SMD =


Độ lệch chuẩn đối chứng

 

Ở bài kiểm tra trong tác động: 6,96 – 6,12  ta thu được kết quả là : SMD = 1,4

                                                      0,60

Ở bài kiểm tra sau tác động: 7,44 – 5,65  ta thu được kết quả là : SMD = 2,3

                                                      0,88


Theo Bảng tiêu chí Cohen, quy mô ảnh hưởng được phân loại từ mức không đáng kể đến mức rất lớn dựa vào giá trị của Mức độ ảnh hưởng. Giá trị SMD ở bài kiểm tra trong tác động đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của can thiệp là: 1,4 > RẤT LỚN. Điều này có nghĩa rằng sự tăng điểm số trung bình 0,84 trong kết quả kiểm tra môn Nói của sinh viên do tác động của phương pháp tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong chương trình dạy nói có mức độ ảnh hưởng rất lớn. 

Giá trị SMD ở bài kiểm tra sau tác động cũng khẳng định mức độ ảnh hưởng của can thiệp là 2,3, thuộc quy mô RẤT LỚN theo Bảng tiêu chí Cohen. So sánh kết quả của bài kiểm tra trong tác động và bài kiểm tra sau tác động, thì ở bài kiểm tra sau tác động, nhóm nghiên cứu đã có những điều chỉnh về nội dung và phương pháp thực hiện các hoạt động dạy học tích hợp đa trí tuệ tốt hơn nên kết quả đạt được cao hơn đối với nhóm thực nghiệm, mức độ ảnh hưởng cũng cao hơn. (0,73 > 0,60 theo thống kê ở Bảng 4).

4. Thảo luận

Mục đích chính của nghiên cứu này là khảo nghiệm tính hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ nhằm phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất (Khóa 2014-2018), thuộc Khoa Ngoại ngữ trường Đại học Phú Yên.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rất đáng kể, đạt mức (0.3) giữa điểm trung bình của môn nói tiếng Anh theo chiều hướng điểm của bài kiểm tra sau tác động cao hơn điểm của bài kiểm tra trước tác động. Kết quả đạt được là nhờ áp dụng nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong chương trình giảng dạy bộ môn Nói tiếng Anh trình độ B1. Nhóm sinh viên tham gia thực hiện đã thể hiện kết quả học tập tiến bộ rõ rệt trong các bài kiểm tra kỹ năng nói tiếng Anh trước và sau tác động. (Bao gồm việc rèn luyện các nhóm nhỏ kỹ năng nói: hỏi và trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân, kiến tạo các cuộc hội thoại dựa trên tình huống cho sẵn, miêu tả tranh, đặt câu hỏi và trả lời về chủ đề đã cho và thuyết trình nói.)

            Do đó, kết quả của nghiên cứu này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác có sử dụng thuyết đa trí tuệ để phát triển và cải tiến các kỹ năng học thuật trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ nói chung (Xie, J.C.et al., 2009) và (Bas, G.2010), và trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là phát triển kỹ năng nói tiếng Anh (Sayed, 2005; Dorgham, 2011 & Salem, 2013).

Kết quả nghiên cứu này có thể đối chứng với nghiên cứu của Salem (2013) về điều tra tính hiệu quả của việc áp dụng chương trình dạy kỹ năng nói tiếng Anh tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho giáo viên sắp ra trường (đối tượng nghiên cứu gồm 60 giáo viên tiếng Anh sắp tốt nghiệp). Kết quả này lại một lần nữa cho thấy chương trình này có hiệu quả tích cực đến kỹ năng nói không những đối với các sinh viên năm thứ nhất mà còn đối với các giáo viên tương lai.

Điều đáng ghi nhận trong nghiên cứu này là các sinh viên chuyên ngữ năm thứ nhất đã thể hiện sự tiến bộ ở kỹ năng thuyết trình tiếng Anh. Chương trình thực nghiệm này đã đem đến nhiều tự tin cho sinh viên trong các hoạt động thuyết trình trước lớp, sự năng động và linh hoạt trong vận dụng các công cụ trình bày như tranh ảnh, đồ dùng trực quan, các biểu mẫu, slides khi trình chiếu … Ngày nay, người thuyết trình thành công là người phải biết sử dụng hiệu quả các phương tiện trực quan, kết hợp với các công cụ công nghệ thông tin. Những kỹ năng thuyết trình nêu trên giúp sinh viên trở thành những người thuyết trình hiệu quả không những trong các giờ học trên lớp mà còn thể hiện trong các hoạt động tự học ở nhà. Kỹ năng thuyết trình tốt còn giúp sinh viên cải tiến các kỹ năng nói tiếng Anh khác như trả lời các câu hỏi phỏng vấn cá nhân, miêu tả tranh…

Kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên thể hiện trong việc thiết lập các mẫu hội thoại dựa vào tình huống cho sẵn cũng được cải tiến đáng kể. Qua việc nhận ra các


kiểu trí tuệ sở trường của mình, sinh viên đã phát triển được các kỹ năng kết hợp các kiểu trí tuệ như trí tuệ hướng ngoại, trí tuệ vận động cơ thể, trí tuệ thị giác – không gian, trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ suy luận logic, trí tuệ âm nhạc – giai điệu và trí tuệ thiên nhiên – môi trường để làm cho hoạt động đóng vai và thực hiện các mẫu hội thoại mang lại những sản phẩm nói tiếng Anh ngày càng hấp dẫn, sinh động hơn và chất lượng nói tiếng Anh ngày càng tốt hơn.

Nhìn chung, kết quả của các bài kiểm tra nói tiếng Anh trước và sau tác động trong nghiên cứu này cho thấy kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên có tiến bộ rõ rệt. Sinh viên đã thể hiện các thành tích của mình trong kỹ năng nói tiếng Anh.

5. Kết luận

Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi kết luận rằng việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong lớp học ngoại ngữ là một phương pháp hiệu quả nhằm phát triển kỹ năng nói tiếng Anh. Chúng tôi cho rằng việc áp dụng thuyết đa trí tuệ vào các lớp học tiếng Anh đã tạo được nhiều cơ hội cho cả giáo viên và sinh viên trong việc chuyển từ phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá năng lực trí tuệ ngôn ngữ và logic toán học theo phương cách truyền thống;  hướng tới phương pháp nhân văn trong việc đào tạo và đánh giá toàn diện năng lực và kết quả học tập của sinh viên theo trí tuệ và phong cách học tập riêng của từng sinh viên.

Áp dụng các hoạt động và cách đánh giá đa trí tuệ trong lớp học để thúc đẩy năng lực ngôn ngữ của sinh viên tiếng Anh chuyên ngữ là việc làm rất cần thiết trong hoạt động hưởng ứng phong trào đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa theo hướng nền kinh tế thị trường XHCN và hội nhập toàn cầu của đất nước ta hiện nay.

Tóm lại, việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong chương trình phát triển kỹ năng nói tiếng Anh đem lại nhiều ích lợi đối với cả giáo viên và sinh viên. Với các hoạt động học tập đa trí tuệ, không khí học tập trong các lớp học chắc chắn sẽ thiên về xu hướng lấy người học làm trung tâm hơn ở các lớp học sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống.

Học tập với những hoạt động phát huy nhiều kiểu trí tuệ khác nhau cũng giúp sinh viên phát triển mạnh các kỹ năng giải quyết vấn đề để sau này các em có thể áp dụng trong cuộc sống nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu công việc trong tương lai. 


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]     Bas, G. (2010), Effects of multiple intelligences supported project-based learning on students’ achievements levels and attitudes towards English lesson. International Electric Journal of Elementary Education, Vol.2, Issue 3, July 2010.

[2]     Christison, M.A. (1996). Teaching and Learning Languages through Multiple Intelligences. TESOL Journal, 6 (1), 10-14.

[3]     Dorgham, R. A. S. (2011). The effectiveness of a proposed program in developing the speaking skills of English language among preparatory stage pupils in the light of multiple intelligences theory. PhD thesis. Institute of Educational Studies. Cairo University.

[4]     Fakhar Naveed (2015). Concepts of Speaking and Listening Skills, Website: Master in Mass Communication: http://mass.pakgalaxy.com/concept-of-speaking-and-listening-skills.html; Retrieved on 25th April 2015.

[5]     Gardner, H (1983), Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences, Basic Books, A Member of the Perseus Books Group, USA. 

[6]     Salem, A. M. S (2013). The Impact of Multiple Intelligences-Based Instruction on Developing Speaking Skills of the Pre-Service Teachers of English. ISSN 1916-4742 (Print)   ISSN 1916-4750 (Online). Canadian Center of Science and Education.

[7]     Sayed, M. M. (2008). Multiple Ways to be Smart: Gardner's Theory of Multiple Intelligences and its Educational English Teaching and Oral Communication. Website:http://eric.ed.gov/?id=ED502634;

[8]     Xie, J.C. et al, (2009). Research on multiple intelligences teaching and assessment. Asian Journal of Management and Humanity Sciences. Vol.4, N0.2-3. pp 106-124.

 

 


[Trở về]   

Các tin khác:
   Đào tạo sinh viên sư phạm Tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực tại Trường Đại học Phú Yên.
   Có nên tích hợp môn Lịch sử?


 
 
Những hoạt động Trường Đại học Phú Yên năm học 2015 - 2016
THÔNG TIN CẦN BIẾT
QUY CHẾ - QUY ĐỊNH
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
DIỄN ĐÀN GIÁO DỤC

Nhằm đáp ứng yêu cầu của Đề án “Dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, ngày 7/5 vừa qua, Khoa Ngoại ngữ Trường Đại học Phú Yên đã tổ chức Hội thảo khoa học “Đổi mới trong dạy học ngoại ngữ: Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho người học trong thời kỳ hội nhập”. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy Chương trình giảng dạy tích hợp các hoạt động đa trí tuệ đã tạo được ảnh hưởng tích cực đến kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên vì theo thống kê có sự khác biệt đáng kể về giá trị trung bình giữa các bài kiểm tra trước và sau tác động. Nghiên cứu này cũng đề xuất một số lưu ý khi áp dụng các hoạt động đa trí tuệ trong phát triển các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên.

Bài viết làm rõ hàm các khái niệm về năng lực, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, năng lực của giáo viên Tiếng Anh. Qua đó, bài viết chia sẻ quá trình đào tạo sinh viên phạm Tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực tại Trường Đại học Phú Yên.

Trong Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang được Bộ GD&ĐT công bố rộng rãi nội dung "tích hợp" môn Lịch sử vào các môn học khác. Ý kiến của bạn về vấn đề này như thế nào?

TRUNG TÂM TIN HỌC - NGOẠI NGỮ
Bản quyền thuộc về Trường Đại học Phú Yên 2011.
Địa chỉ: 18 Trần Phú - Phường 7 - Thành phố Tuy Hòa - Tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 057.3843025 - Fax: 057.3842618 - 3842312